- Tam quyền phân lập
- Tả khuynh và Hữu khuynh
- Đa nguyên, Đa đảng
1) Tam quyền phân lập
Một hệ thống cai trị được cấu thành từ ba khối quyền lực độc lập và có quyền phủ quyết lẫn nhau hệ thống đó được coi là hoạt động theo nguyên tắc Tam quyền phân lập.
Ba khối quyền lực và các cơ quan trực thuộc gồm có:
1) Lập pháp: Cơ quan trực thuộc: Thượng viện ; Hạ viện.
2) Hành pháp: Cơ quan trực thuộc: Văn phòng Thủ tướng / Văn phòngTổng thống; Văn phòng các Bộ, Cục, Ban.
3) Tư Pháp: Cơ quan trực thuộc: Tòa án Tối cao; Tòa Thượng (Phúc) thẩm; Tòa Sơ thẩm.
Trong thời gian các năm 1212-1213, trước những biến đổi sâu rộng trong xã hội Anh, vua John lúc đó đã có sáng kiến kêu gọi các lãnh chúa, giới tăng lữ và những “người Anh ưu tú” góp tiếng nói về các chính sách cai trị trong Vương Quốc. Một hình thức hoạt động tương tự như “hội nghị” ra đời sau đó ( từ Parliament có nghĩa là Quốc Hội trong tiếng Anh có nguồn gốc từ chữ Parler trong tiếng Pháp và có xuất xứ từ quyết định này của vua John).
Năm 1215 các lãnh chúa và giới tăng lữ làm áp lực bắt vua John phải chính thức ký và ban hành một “Đại Văn Bản” (Magna Carta). Trong đó:- Điều 14 qui định khi ban hành một biểu thuế mới Vua phải triệu tập giới quí tộc, giới tăng lữ và giới điền chủ đến để hỏi ý kiến và được chấp thuận.- Điều 61 qui định việc thành lập một Hội đồng gồm 25 lãnh chúa (Baron) và cho phép các lãnh chúa dùng vũ lực vô hiệu sắc lệnh của Vua.
Quyền cai trị ở Anh vào lúc này đã hình thành hai khối: Ngai vàng và Hội đồng “nhân dân”. Hội đồng được coi như “Nghị viện” và Lập pháp đã chính thức ra đời từ đây. Magna Carta cho phép Lập pháp phủ quyết Ngai vàng tuy nhiên quyền cai trị tối cao vẫn được coi thuộc về Ngai vàng, Lập pháp chỉ đóng vai cố vấn. Magna Carta ngày nay được coi là tiền thân của tất cả những bản Hiến pháp trên thế giới.
Quyền cai trị ở Anh vào lúc này đã hình thành hai khối: Ngai vàng và Hội đồng “nhân dân”. Hội đồng được coi như “Nghị viện” và Lập pháp đã chính thức ra đời từ đây. Magna Carta cho phép Lập pháp phủ quyết Ngai vàng tuy nhiên quyền cai trị tối cao vẫn được coi thuộc về Ngai vàng, Lập pháp chỉ đóng vai cố vấn. Magna Carta ngày nay được coi là tiền thân của tất cả những bản Hiến pháp trên thế giới.
Năm 1748, trong tác phẩm “Tinh thần Luật pháp” (The Spirit of Laws) triết gia Montesquieu lý luận rằng quyền lực của ba ngành Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp nên cơ cấu riêng rẽ nhằm bảo đảm không có nhóm quan chức chính quyền nào có quyền thế vượt trội, lấn lướt các nhóm khác trong hệ thống. Montesquieu cho rằng cơ cấu riêng rẽ sẽ làm giảm khả năng quyền lực bị lạm dụng.
Năm 1688 xảy ra sự kiện Nghị viện Anh truất phế vua James và lập ra triều đại của Nữ hoàng Mary. Sự kiện này đánh dấu việc quyền cai trị tối cao đã chuyển từ Ngai vàng sang cho Nghị viện (Parliamentary supremacy).Trong thời gian nửa thế kỷ sau đó dần dần hình thành việc các chức vụ của Hành pháp xuất hiện từ Nghị viện, tức là Thủ tướng và các Bộ trưởng được chọn từ các Dân biểu. Như vậy có tình trạng Lập pháp và Hành pháp “tuy hai mà một”. Từ “riêng rẽ” (separation) mà Montesquieu dùng ở đây có nghĩa là Thủ tướng và các Bộ trưởng nên được chọn từ một cơ chế riêng, không liên quan tới Quôc hội.
Năm 1783 người Mỹ giành được độc lập từ tay người Anh. Ảnh hưởng tư tưởng Montesquieu các nhà lập quốc Hoa Kỳ thiết lập hệ thống cai trị gồm ba nhánh riêng biệt. Hành pháp do Tổng thống đứng đầu và do dân bầu. Lập pháp có hai Viện, thành viên lưỡng viện do dân bầu. Tư pháp có Tòa án Tối cao và Toà án Địa phương, các quan tòa do Lập pháp bổ nhiệm.Tất cả các điều luật Lập pháp đưa ra (Legislations) phải được Hành pháp phê chuẩn. Các chính sách của Hành pháp đưa ra (Bills) phải được Lập pháp phê chuẩn. Lập pháp có thể biểu quyết truất phế Tổng thống đương nhiệm. (Trong Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 phạm vi quyền lực và nhiều phần khác của ngành Tư pháp không được nêu ra, các phần này được bổ sung vào các năm 1789 và 1803 ).
3 "nhánh" quyền lực của chính phủ Mỹ
Năm 1803, qua một vụ tranh chấp được biết với cái tên “Marbury vs Madison” Hiến pháp Hoa Kỳ được tu chính qua đó các chánh án của Tối cao Pháp viện sẽ do Tổng thống bổ nhiệm và được Quốc hội phê chuẩn. Tối cao Pháp viện có quyền xác định một đạo luật đã được cả hai Lập pháp và Hành pháp phê chuẩn là phạm pháp (vi hiến), và vô hiệu đạo luật này.
Trên đây là những sự kiện có thể minh họa phần nào các bước phát triển của nguyên tắc hoạt động của chế độ Tam quyền phân lập. Trường hợp của Hoa Kỳ có thể gọi là Tam quyền phân lập “triệt để”, đó là một cơ chế chính trị có ba nhánh quyền lực "kiểm soát và cân bằng" lẫn nhau (checked-and-balanced). Hiện nay ngoài Hoa Kỳ chỉ có Philippines và Latvia dùng nguyên tắc “triệt để” này. Hầu hết các quốc gia khác vẫn còn tình trạng Lập pháp và Hành pháp “tuy hai mà một”. Tuy nhiên vấn đề lạm dụng quyền lực đã có biện pháp khắc phục. Một trong những biện pháp khắc phục là quyền “biểu quyết bất tính nhiệm” (the vote of no confidence) của Lập pháp.
2) Tả khuynh và Hữu khuynh
Nguồn gốc: Tả khuynh và hữu khuynh (hay "thiên tả" và "thiên hữu") có nguồn gốc từ chỗ ngồi của hai nhóm đại biểu Hội nghị Quốc dân trong Cách mạng Pháp.
Cuộc cách mạng Pháp bắt đầu với việc một nhóm quá khích có tên gọi Jacobin ở thủ đô Paris huy động dân chúng nổi dậy phá ngục Bastille ngày 14 tháng 7 năm 1789 và lập ra Quốc hội. Vua Louis XVI lúc đó tuy đã mất khá nhiều quyền lực nhưng vẫn còn tại vị. Đến tháng 8 năm 1792 nhóm Jacobin một lần nữa huy động dân chúng Paris nổi dậy lật đổ vua Louis XVI và giải tán Quốc hội. Tháng 9 năm 1792 Quốc hội mới được thành lập với tên gọi “ Hội nghị Quốc dân” (Convention).
Tại một trong những cuộc họp đầu tiên của Hội nghị Quốc dân các đại biểu phải bàn và ra biểu quyết về số phận của vua Louis XVI. Một nhóm đại biểu cho rằng phải xử tử hình Louis XVI, nhóm này ngồi tụ lại với nhau bên cánh trái của chiếc ghế Chủ tịch (Speaker). Một nhóm khác cho rằng không cần phải tử hình vua, nhóm này ngồi tụ lại bên cánh phải của chiếc ghế Chủ tịch. Một nhóm khác có chủ trương tìm giải pháp dung hòa thì ngồi ở giữa. Từ đây những khái niệm và thuật ngữ “cánh tả”, “cánh hữu” và “cánh trung dung” ra đời. Theo ý nghĩa ban đầu thì “người của cánh tả” là người có chủ trương chính trị giết vua, còn người của "cánh hữu” là người có chủ trương tha vua. Nhưng theo thời gian ý nghĩa của “cánh tả” và “cánh hữu” đã biến đổi.
Biến thể: Đến thời hiện đại "cánh tả" và "cánh hữu" đã mang ý nghĩa hoàn toàn khác.
Theo thời gian hai khái niệm “cánh tả“ và “cánh hữu” phát triển thành khái niệm “lăng kính chính trị” (political spectrum) với hai đầu là cực tả và cực hữu, tiếp theo là trung tả và trung hữu và ở giữa là trung dung. Từ lăng kính chính trị những khái niệm: “thiên tả” (tả khuynh), “thiên hữu” (hữu khuynh), “bảo thủ”, “cấp tiến”…v.v. lần lượt xuất hiện. Từ những khái niệm này người ta có thể biết chủ trương chính trị của một đảng hay một chính khách. Chẳng hạn, người cánh hữu hay người thiên hữu (các đảng thiên hữu thường lấy tên là đảng Bảo Thủ) là người có chủ trương nhà nước không nên can thiệp hay can thiệp càng ít càng tốt vào đời sống cá nhân. Ngược lại người cánh tả hay người thiên tả có chủ trương nhà nước cần can thiệp vào đời sống cá nhân vì lợi ích của toàn xã hội (đây là lý do các đảng thiên tả thường lấy tên là đảng Xã Hội). Quan sát các chính đảng trên thế giới ta sẽ thấy các đảng Bảo Thủ thiên hữu khi lên cầm quyền thường áp dụng chính sách: thị trường tự do, thu hẹp hoạt động của chính phủ và cắt giảm thuế. Trong lúc các đảng Xã Hội thiên tả thường có chính sách: mở rộng các chương trình trợ giúp xã hội (làm bộ máy chính phủ phình to), kiểm soát (kế hoạch hóa) nền kinh tế, và tăng thuế.
Các mô hình
Mô hình lăng kính ngang: Thoạt đầu lăng kính này diễn đạt cả hai lĩnh vực kinh tế và chính trị-xã hội. Về kinh tế bên cánh phải tượng trưng kinh tế thị trường tư do, bên trái tượng trưng kinh tế bị kiểm soát. Về chính trị cả hai phía cực hữu và cực tả tượng trưng chế độ độc tài. Trên lăng kính một chiều, tùy theo chủ trương, chính sách và mức độ sâu rộng của các chủ trương chính sách đó mà vị trí của một đảng, một chính phủ hay một chính khách được đặt ở vị trí tương ứng.
Bên cực tả là chế độ độc tài cộng sản. Trung tả là các nước có chính sách xã hội Bắc Âu với đặc trưng chăm sóc y tế miễn phí và đánh thuế cao. Ở khu vực trung dung là chính sách của đảng Tân Dân Chủ, đảng Tự Do Canada và đảng Dân Chủ của Hoa Kỳ. Di chuyển sang trung hữu là đảng Bảo Thủ Canada và đảng Cộng Hoà Hoa Kỳ với đặc trưng thiên về kinh tế thị trường tự do và cắt giảm thuế. Đến bên cực hữu là chế độ độc tài phát-xít.
Mô hình lăng kính hai chiều: Theo thời gian các thể chế chính trị trên thế gìới thay đổi. Nhiều mô hình kinh tế-chính trị-xã hội mới xuất hiện, nhiều đảng phái, nhiều chính khách có chủ trương lẫn lộn chính trị thiên hữu kinh tế thiên tả. Để có thêm không gian diển đạt chính xác hơn lăng kính chính trị được điều chỉnh thành hai chiều. Chiều ngang diễn đạt vấn đề kinh tế, chiều dọc diễn đạt vấn đề chính trị-xã hội.
Ghi chú:
- Authoritarian: độc tài, quyền lực tập trung vào một cá nhân, hay một nhóm nhỏ
- Libertarian: chủ trương tự do cá nhân
- Left/Socialist: cánh tả / chủ nghĩa xã hội
- Right/Capitalist: cánh hữu / chủ nghĩa tư bản
- Left-Wing Authoritarian: độc tài tả khuynh, nhà nước kiểm soát chặt chẽ cá nhân,
kiểm soát kinh tế, ngăn sông cấm chợ
- Right-Wing Authoritarian: độc tài hữu khuynh, nhà nước kiểm soát cá nhân,
nhưng chủ trương thị trường tư do, không kiểm soát hoạt động kinh tế
- Right-Wing Libertarian: tự do,hữu khuynh, nhà nước tôn trọng tự do cá nhân,
nhà nước không kiểm soát kinh tế
- Left-Wing Libertariam: tự do tả khuynh, chủ trương nhà nước tôn trọng tự do cá nhân, nhưng có những chính sách kiểm soát kinh tế
3) Đa nguyên, Đa đảng
Đa nguyên: Đa nguyên (pluralism) có nhiều nghĩa, và có thể hiểu một cách nôm na là “nhiều thành phần". Tùy thuộc vào trường hợp được dùng trong lĩnh vực nào đa nguyên sẽ có ý nghĩa được hiểu trong lĩnh vực đó.
Đa nguyên trong quyền lực nhà nước: Trong lĩnh vực chính trị cấp nhà nước đa nguyên được dùng để mô tả tình trạng quyền lãnh đạo quốc gia (governance power), tức là quyền điều hành bộ máy nhà nước (an ninh, quốc phòng, y tế, giao thông, tài chính, tư pháp....) quyền đưa ra các quyết định, các chính sách có ảnh hưởng lên toàn xã hội, không dành riêng cho một cá nhân, một đảng phái, một nhóm người hay một thành phần xã hội nào. “Không dành riêng” ở đây không phải chỉ là những quy định bằng ngôn từ, văn bản, mà được nhìn nhận qua những hoạt động thực tế là không dùng luật, không dùng toà án, nhà tù, không dùng quản thúc tại gia, không dùng công an và quân đội để áp chế, tiêu diệt thành phần bất đồng, đối lập chính trị.
Ví dụ: Nam Phi trước năm 1994 toàn bộ hệ thống và quyền lực chính trị nằm trong tay của người da trắng thiểu số (một nhóm người). Nguời da đen đa số hoàn toàn không được phép chia sẻ quyền lực, và cũng không có chút ảnh hưởng nào trong việc đưa ra các đạo luật, các chính sách. Nam Phi lúc đó không có một thể chế chính trị đa nguyên. Ngược lại, sau năm 1994 Nam Phi thay đổi. Người da đen được phép tranh giành quyền lực ở tất cả các cấp của bộ máy nhà nước. Kết quả sau đó Nam Phi có Tổng thống, Bộ trưởng, Tỉnh trưởng, Thị trưởng là người da đen, trong khi Phó Tổng thống và nhiều viên chức khác trong bộ máy chính quyền là người da trắng. Nam Phi đã thay đổi từ một nước có thể chế chính trị phân biệt chủng tộc sang thể chế chính trị đa nguyên.
Các mô hình
Mô hình lăng kính ngang: Thoạt đầu lăng kính này diễn đạt cả hai lĩnh vực kinh tế và chính trị-xã hội. Về kinh tế bên cánh phải tượng trưng kinh tế thị trường tư do, bên trái tượng trưng kinh tế bị kiểm soát. Về chính trị cả hai phía cực hữu và cực tả tượng trưng chế độ độc tài. Trên lăng kính một chiều, tùy theo chủ trương, chính sách và mức độ sâu rộng của các chủ trương chính sách đó mà vị trí của một đảng, một chính phủ hay một chính khách được đặt ở vị trí tương ứng.
Bên cực tả là chế độ độc tài cộng sản. Trung tả là các nước có chính sách xã hội Bắc Âu với đặc trưng chăm sóc y tế miễn phí và đánh thuế cao. Ở khu vực trung dung là chính sách của đảng Tân Dân Chủ, đảng Tự Do Canada và đảng Dân Chủ của Hoa Kỳ. Di chuyển sang trung hữu là đảng Bảo Thủ Canada và đảng Cộng Hoà Hoa Kỳ với đặc trưng thiên về kinh tế thị trường tự do và cắt giảm thuế. Đến bên cực hữu là chế độ độc tài phát-xít.
Mô hình lăng kính hai chiều: Theo thời gian các thể chế chính trị trên thế gìới thay đổi. Nhiều mô hình kinh tế-chính trị-xã hội mới xuất hiện, nhiều đảng phái, nhiều chính khách có chủ trương lẫn lộn chính trị thiên hữu kinh tế thiên tả. Để có thêm không gian diển đạt chính xác hơn lăng kính chính trị được điều chỉnh thành hai chiều. Chiều ngang diễn đạt vấn đề kinh tế, chiều dọc diễn đạt vấn đề chính trị-xã hội.
Ghi chú:
- Authoritarian: độc tài, quyền lực tập trung vào một cá nhân, hay một nhóm nhỏ
- Libertarian: chủ trương tự do cá nhân
- Left/Socialist: cánh tả / chủ nghĩa xã hội
- Right/Capitalist: cánh hữu / chủ nghĩa tư bản
- Left-Wing Authoritarian: độc tài tả khuynh, nhà nước kiểm soát chặt chẽ cá nhân,
kiểm soát kinh tế, ngăn sông cấm chợ
- Right-Wing Authoritarian: độc tài hữu khuynh, nhà nước kiểm soát cá nhân,
nhưng chủ trương thị trường tư do, không kiểm soát hoạt động kinh tế
- Right-Wing Libertarian: tự do,hữu khuynh, nhà nước tôn trọng tự do cá nhân,
nhà nước không kiểm soát kinh tế
- Left-Wing Libertariam: tự do tả khuynh, chủ trương nhà nước tôn trọng tự do cá nhân, nhưng có những chính sách kiểm soát kinh tế
3) Đa nguyên, Đa đảng
Đa nguyên: Đa nguyên (pluralism) có nhiều nghĩa, và có thể hiểu một cách nôm na là “nhiều thành phần". Tùy thuộc vào trường hợp được dùng trong lĩnh vực nào đa nguyên sẽ có ý nghĩa được hiểu trong lĩnh vực đó.
Đa nguyên trong quyền lực nhà nước: Trong lĩnh vực chính trị cấp nhà nước đa nguyên được dùng để mô tả tình trạng quyền lãnh đạo quốc gia (governance power), tức là quyền điều hành bộ máy nhà nước (an ninh, quốc phòng, y tế, giao thông, tài chính, tư pháp....) quyền đưa ra các quyết định, các chính sách có ảnh hưởng lên toàn xã hội, không dành riêng cho một cá nhân, một đảng phái, một nhóm người hay một thành phần xã hội nào. “Không dành riêng” ở đây không phải chỉ là những quy định bằng ngôn từ, văn bản, mà được nhìn nhận qua những hoạt động thực tế là không dùng luật, không dùng toà án, nhà tù, không dùng quản thúc tại gia, không dùng công an và quân đội để áp chế, tiêu diệt thành phần bất đồng, đối lập chính trị.
Ví dụ: Nam Phi trước năm 1994 toàn bộ hệ thống và quyền lực chính trị nằm trong tay của người da trắng thiểu số (một nhóm người). Nguời da đen đa số hoàn toàn không được phép chia sẻ quyền lực, và cũng không có chút ảnh hưởng nào trong việc đưa ra các đạo luật, các chính sách. Nam Phi lúc đó không có một thể chế chính trị đa nguyên. Ngược lại, sau năm 1994 Nam Phi thay đổi. Người da đen được phép tranh giành quyền lực ở tất cả các cấp của bộ máy nhà nước. Kết quả sau đó Nam Phi có Tổng thống, Bộ trưởng, Tỉnh trưởng, Thị trưởng là người da đen, trong khi Phó Tổng thống và nhiều viên chức khác trong bộ máy chính quyền là người da trắng. Nam Phi đã thay đổi từ một nước có thể chế chính trị phân biệt chủng tộc sang thể chế chính trị đa nguyên.
Nói cách khác để xác định thể chế chính trị đa nguyên:
Điều kiện cần: Có nhiều (ít nhất là 2) đảng phái chính trị cùng tồn tại và cạnh tranh lẫn nhau.
Điền kiện đủ: Các đảng phái khác không bị đảng cầm quyền (hay nhà cầm quyền) đàn áp, tiêu diệt, công khai hay bí mật.
Cấp đảng phái: Ở cấp đảng phái, đa nguyên có nghĩa là quyền lãnh đạo của một đảng được tranh chấp và người lãnh đạo của đảng được thay đổi dưa trên căn bản sự khác biệt về khả năng, quan điểm, về chính sách và về giải pháp. Một đảng chính trị đa nguyên là đảng có nhiều phe, nhiều nhóm. Sự khác biệt về quan điểm và ý muốn tranh giành quyền lãnh đạo đảng của các phe nhóm là công khai và liên tục. Nhóm nào, cá nhân nào lãnh đạo đảng sẽ được quyết định qua kết quả của các phiếu bầu tại kỳ đại hội toàn đảng. Hầu hết các chính đảng ở các nước dân chủ là những đảng chính trị đa nguyên. Ngược lại tất cả các đảng Cộng Sản, đảng Quốc Xã ở Đức, đảng Phát-xít ở Ý trước kia là những đảng không đa nguyên.
Ví dụ: Trần Xuân Bách của Việt Nam, Triệu Tử Dương của Trung Quốc, chỉ vì bất đồng quan điểm với một nhóm lãnh đạo khác trong đảng đã bị tước hết chức vụ, khai trừ và bị quản thúc tại gia cho đến chết. Ngược lại cuộc bầu cử sơ bộ hiện nay của đảng Cộng Hòa tại Mỹ, cho thấy nên trong đảng có nhiều cá nhân đang cạnh tranh để được đề cử là ứng viên cho chức Tổng Thống.
Cấp đảng phái: Ở cấp đảng phái, đa nguyên có nghĩa là quyền lãnh đạo của một đảng được tranh chấp và người lãnh đạo của đảng được thay đổi dưa trên căn bản sự khác biệt về khả năng, quan điểm, về chính sách và về giải pháp. Một đảng chính trị đa nguyên là đảng có nhiều phe, nhiều nhóm. Sự khác biệt về quan điểm và ý muốn tranh giành quyền lãnh đạo đảng của các phe nhóm là công khai và liên tục. Nhóm nào, cá nhân nào lãnh đạo đảng sẽ được quyết định qua kết quả của các phiếu bầu tại kỳ đại hội toàn đảng. Hầu hết các chính đảng ở các nước dân chủ là những đảng chính trị đa nguyên. Ngược lại tất cả các đảng Cộng Sản, đảng Quốc Xã ở Đức, đảng Phát-xít ở Ý trước kia là những đảng không đa nguyên.
Ví dụ: Trần Xuân Bách của Việt Nam, Triệu Tử Dương của Trung Quốc, chỉ vì bất đồng quan điểm với một nhóm lãnh đạo khác trong đảng đã bị tước hết chức vụ, khai trừ và bị quản thúc tại gia cho đến chết. Ngược lại cuộc bầu cử sơ bộ hiện nay của đảng Cộng Hòa tại Mỹ, cho thấy nên trong đảng có nhiều cá nhân đang cạnh tranh để được đề cử là ứng viên cho chức Tổng Thống.
Đa đảng: Đa đảng chỉ đơn giản là có nhiều hơn một đảng. Vì vậy một hệ thống chính trị gọi là đa đảng có thể có hai tình trạng: đa đảng hình thức và đa đảng thực tế. Theo định nghĩa, một đảng phái chỉ đưọc gọi là đảng phái chính trị khi đảng đó có hoạt động để tranh giành quyền lãnh đạo chính trị. Một thể chế chính trị chỉ được gọi là thể chế chính trị đa đảng khi thể chế đó có sự hiện diện của nhiều đảng phái chính trị. Đây là đa đảng thực tế. Các nước dân chủ là những nước có thể chế chính trị đa đảng thực tế. Ngược lại, một đảng dù có tên, có đăng ký, có thừa nhận nhưng không có hoạt động cạnh tranh quyền lãnh đạo, đảng đó không phải là một đảng chính trị. Đảng ở đây chỉ là một thứ công cụ ngụy trang để một thể chế bên trong là độc đảng, nhưng bên ngoài mang bộ mặt đa đảng.
Bầu cử đa đảng ở miền Nam trước 1975
Ví dụ: Việt Nam trước năm 1992 ngoài đảng Cộng Sản còn có các đảng Dân Chủ, đảng Xã Hội, nhưng vì các đảng Dân Chủ và Xã Hội không có các hoạt động cạnh tranh quyền lãnh đạo với đảng Cộng Sản nên thể chế chính trị của Việt Nam không phải là thể chế đa đảng. Đây là tình trạng đa đảng hình thức.
Ngược lại ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 đã có nhiều đảng cùng tồn tại hoạt động, cùng cạnh tranh trong các kỳ bầu cử.
Miền Nam trước 1975 có thể chế đa đảng thực tế.
- Đa đảng rồi thì có cần đa nguyên không?
Câu hỏi này có hai cách trả lời. Nếu là đa đảng thực tế thì yếu tố đa nguyên trong quyền lãnh đạo quốc gia (cấp nhà nước) luôn luôn hiện diện. Đồng thời, một khi đã có đa nguyên cấp nhà nước thì xã hội sẽ có (chuyển dần sang) môi trường văn hóa chính trị đa nguyên, môi trường này sẽ tác động và đưa tới đa nguyên trong quyền lãnh đạo đảng.
Ngược lại nếu đa đảng chỉ là hình thức, thì dù có nhiều đảng tồn tại vẫn không có chế độ đa nguyên chính trị, như trường hợp Việt Nam trước năm 1992, Philippines trước năm 1986, Thái Lan trước năm 1979...v.v.
- Đa nguyên rồi có cần đa đảng không?
Thực tế cho thấy sư rút lui của các chế độ độc tài thường bắt đầu với việc nới lỏng sự kiểm soát và đàn áp đối với các nhóm bất đồng chính kiến. Đây là điểm khởi đầu của đa nguyên. Tiếp theo là việc sửa đổi hoặc ban hành Hiến Pháp trong đó có những qui định về điều kiện cầm quyền, tức là xác định tính đa nguyên của thể chế. Vì những qui định trong Hiến Pháp nên các nhóm muốn tranh chấp quyền lực phải chọn cho mình danh xưng, cương lĩnh, điều lệ, và phải đăng ký trước pháp luật như một chính đảng. Như vậy khi đã có đa nguyên đa đảng không phải là điều “cần” mà là một điều tất yếu.
Hình minh họa nguồn: internet
Bầu cử đa đảng ở miền Nam trước 1975
Ví dụ: Việt Nam trước năm 1992 ngoài đảng Cộng Sản còn có các đảng Dân Chủ, đảng Xã Hội, nhưng vì các đảng Dân Chủ và Xã Hội không có các hoạt động cạnh tranh quyền lãnh đạo với đảng Cộng Sản nên thể chế chính trị của Việt Nam không phải là thể chế đa đảng. Đây là tình trạng đa đảng hình thức.
Ngược lại ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 đã có nhiều đảng cùng tồn tại hoạt động, cùng cạnh tranh trong các kỳ bầu cử.
Miền Nam trước 1975 có thể chế đa đảng thực tế.
- Đa đảng rồi thì có cần đa nguyên không?
Câu hỏi này có hai cách trả lời. Nếu là đa đảng thực tế thì yếu tố đa nguyên trong quyền lãnh đạo quốc gia (cấp nhà nước) luôn luôn hiện diện. Đồng thời, một khi đã có đa nguyên cấp nhà nước thì xã hội sẽ có (chuyển dần sang) môi trường văn hóa chính trị đa nguyên, môi trường này sẽ tác động và đưa tới đa nguyên trong quyền lãnh đạo đảng.
Ngược lại nếu đa đảng chỉ là hình thức, thì dù có nhiều đảng tồn tại vẫn không có chế độ đa nguyên chính trị, như trường hợp Việt Nam trước năm 1992, Philippines trước năm 1986, Thái Lan trước năm 1979...v.v.
- Đa nguyên rồi có cần đa đảng không?
Thực tế cho thấy sư rút lui của các chế độ độc tài thường bắt đầu với việc nới lỏng sự kiểm soát và đàn áp đối với các nhóm bất đồng chính kiến. Đây là điểm khởi đầu của đa nguyên. Tiếp theo là việc sửa đổi hoặc ban hành Hiến Pháp trong đó có những qui định về điều kiện cầm quyền, tức là xác định tính đa nguyên của thể chế. Vì những qui định trong Hiến Pháp nên các nhóm muốn tranh chấp quyền lực phải chọn cho mình danh xưng, cương lĩnh, điều lệ, và phải đăng ký trước pháp luật như một chính đảng. Như vậy khi đã có đa nguyên đa đảng không phải là điều “cần” mà là một điều tất yếu.
Hình minh họa nguồn: internet








No comments:
Post a Comment